Dược liệu xanh

Chúng tôi mong muốn và cam kết cung cấp cho khách hàng sản phẩm thuốc bổ gan Boganic hoàn toàn từ dược liệu sạch theo tiêu chuẩn “ dược liệu sạch” của tổ chức y tế thế giới.

  • Chuỗi giá trị “xanh” của Traphaco

    (DĐDN) - Traphaco đã vượt lên lợi ích đơn thuần của một doanh nghiệp để thực hiện trách nhiệm chung, khai thác nguồn lợi quốc gia góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển một ngành kinh tế hướng vào xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu nông dân nghèo.

    Những ngày cuối năm, con ngõ nhỏ dẫn vào nhà Nguyễn Văn Lành ở thôn 12, xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu đông hơn thường nhật bởi đây là thời vụ thu hoạch cây dược liệu đinh lăng và gia đình anh là một trong những đầu mối thu mua, sơ chế. Số tiền thu được từ bán đinh lăng đủ đảm bảo cho nhiều hộ nông dân có một cái Tết sung túc đang đến gần.

    Cây... làm giàu

    Gia đình anh Lành cũng là một trong những hộ nông dân thuộc tổ hợp tác trồng đinh lăng của xã Hải Toàn. Anh hồ hởi chia sẻ: Từ ngày được Traphaco tập huấn, trồng trọt theo tiêu chuẩn GACP, kiến thức trồng trọt của chúng tôi được mở rộng, cây phát triển tốt, năng suất chất lượng nâng lên rõ rệt, quan trọng hơn công ty đã cam kết với người nông dân thu mua cao hơn 10% so với giá thị trường nên bà con yên tâm sản xuất. Đinh lăng không đơn thuần là cây xóa đói giảm nghèo mà còn là cây làm giàu cho người nông dân trong xã. Với giá thu mua toàn bộ rễ, gốc, thân hiện tại từ 25- 27.000 đồng/kg, nếu trồng 1 sào, 3 năm sau cho thu nhập 45- 50 triệu đồng/sào. Trừ chi phí giống 2- 3 triệu và phân bón từ 500- 800 ngàn đồng/sào. Người nông dân trung bình lãi ròng 40- 45 triệu đồng/sào/1 năm (tương đương trên dưới 1 tỷ đồng/ha/1 năm).

    Traphaco Xanh Dinh lang
    Vùng trồng cây đinh lăng của Traphaco tại Hải Hậu, Nam Định 

    Traphaco đã vượt lên lợi ích đơn thuần của một doanh nghiệp để thực hiện trách nhiệm chung, khai thác nguồn lợi quốc gia góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển một ngành kinh tế hướng vào xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu nông dân nghèo.

     Hải Toàn là một trong những xã có diện tích đinh lăng lớn nhất huyện Hải Hậu. Tiếp chúng tôi tại UBND xã, ông Trần Khắc Lượng chủ tịch xã Hải Toàn cho biết: Cùng với chương trình nông thôn mới, chúng tôi đã xây dựng và phát triển làng nghề cây dược liệu đinh lăng và chọn 30 hộ làm nòng cốt. Hiện tại do 30 hộ dân đã tổ chức thành tổ sản xuất theo mô hình hợp tác xã nên về phía địa phương, xã đã tạo điều kiện cho các hộ này thuê diện tích đất chuyển đổi và vay vốn từ nguồn của ngân hàng chính sách với hạn mức 25-30 triệu đồng/hộ. Bản thân gia đình tôi hiện 3 sào đinh lăng. Xã Hải Toàn hiện đã phát triển được 10ha cây dược liệu đinh lăng. Dự kiến, toàn xã sẽ có 15ha vào năm 2017. Ông Mai Văn Quyết, Phó Chủ tịch UBND huyện Hải Hậu, thông tin với chúng tôi: Không chỉ là một trong những địa phương có thổ nhưỡng rất tốt mà Hải Hậu còn có giống đinh lăng lá nhỏ được các chuyên gia đánh giá có hàm lượng hoạt chất cao. Sau một thời gian dài phát triển tự phát, hiện Hải Hậu có 172ha cây đinh lăng. Để phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, chúng tôi đã xây dựng quy hoạch phát triển cây dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, xác định cây đinh lăng là một trong những cây dược liệu chủ lực. Trong đó, tập trung thúc đẩy chuỗi liên kết giữa bốn nhà: nhà nước- nhà khoa học - DN - nhà nông trên cơ sở kinh tế thị trường với vai trò trung tâm là doanh nghiệp. Với sự hợp tác của Công ty cổ phần Traphaco, chúng tôi tin rằng đây sẽ là “chìa khóa” để vùng dược liệu cây đinh lăng phát triển bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao cho bà con nông dân.

    Thực tế những năm gần đây, cùng với việc quy hoạch vùng trồng và cung cấp giống đinh lăng, Traphaco đã đầu tư nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm từ loại dược liệu này. Dự án “Hoàn thiện qui trình sản xuất viên nang mềm Cebraton” từ đinh lăng đã được đưa vào triển khai sản xuất lớn, góp phần phát triển thị trường và tăng cường khai thác nguồn dược liệu trong nước. Sau 2 năm thực hiện, dự án đã cho ra đời 10 triệu viên Cebraton, hoàn thiện qui trình chiết xuất và cô dịch chiết Đinh lăng, ứng dụng thành công công nghệ sấy phun để sản xuất cao khô Đinh lăng thay sấy điện truyền thống...

    Traphaco xanh Actiso

    Dự án đồng thời kết hợp với dự án cơ sở “Nghiên cứu, phát triển bền vững nguồn dược liệu Traphaco” (Greenplan) của công ty để tổ chức đào tạo, vận động, hướng dẫn cho các hộ dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái dược liệu Đinh lăng theo Hướng dẫn GACP - WHO, đem lại những kết quả lớn về mặt kinh tế xã hội tới bà con vùng trồng dược liệu và ảnh hưởng tích cực đến con đường phát triển của dược liệu Việt Nam.

    Những nỗ lực miệt mài của Trphaco đã được ghi nhận khi ngày 27/5/2014, 827 ha diện tích nuôi trồng và thu hái dược liệu tự nhiên cho 04 cây thuốc Actiso, bìm bìm biếc, rau đắng đất, đinh lăng của Traphaco đã được Cục Quản lý Y Dược Cổ truyền (Bộ Y tế) công nhận đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. Traphaco trở thành DN dược đầu tiên tại miền Bắc nhận được chứng chỉ GACP-WHO cho vùng dược liệu, hoàn thiện chuỗi giá trị “xanh” mà Cty đang theo đuổi: từ nguồn nguyên liệu xanh, công nghệ xanh để tạo nên những sản phẩm xanh, góp phần phát triển nền kinh tế xanh.

    Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Mã luôn tự hào: Con đường dược liệu của Traphaco không chỉ xây bằng các kết quả nghiên cứu, mà bằng sự tận tâm cống hiến của hàng ngàn cán bộ công nhân viên của Traphaco, từ những cán bộ tham gia sản xuất luôn tuân thủ các quy trình nghiêm ngặt GMP đến những trình dược viên luôn mang trong mình khát vọng chinh phục và hướng tới khách hàng . Nhưng quan trọng hơn cả con đường của Traphaco được dẫn dắt bởi những nhà điều hành tâm huyết, không sợ thất bại; những người đã đặt niềm tin vào chính sách cũng như nỗ lực của toàn thể CBCNV Cty để xây nên con đường “sức khỏe xanh” cho Traphaco và cộng đồng. Đó cũng là con đường khác biệt để Traphaco trở thành DN dược số 1 Việt Nam.

    Phan Nam

  • Rau đắng đất cây thuốc sạch dân dã từ tự nhiên

    Từ lâu, rau đắng đất là một loại cây dân dã gắn liền với đời sống của người dân miền Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Rau đắng đất là gia vị không thể thiếu trong món cháo cá lóc hay món lẩu cá kèo, lẩu mắm của người dân nơi đây. Cháo rau đắng mới ăn thấy đắng ở đầu lưỡi mà kì lạ khi nuốt qua cổ họng lại đọng lại dư vị ngọt thơm đến khó tả. Người dân Nam Bộ thường ăn cháo cá lóc với rau đắng tươi còn người dân Nam Trung Bộ lại có thói quen ăn thứ cháo trắng trộn với tro của cây rau đắng, nấu ăn với nồi cá kho thịt và gừng. Thứ rau giản dị, mộc mạc này đã trở thành niềm thương nỗi nhớ, đi cả vào trong những câu hát của nhạc sĩ Bắc Sơn “Nhớ lũy tre xanh dạo quanh khung trời kỷ niệm, chợt thèm rau đắng nấu canh”.

     Rau đắng ngọt lịm tình quê

    Anh đi lục tỉnh anh mê không về

    Rau đắng đất hiền hòa, dễ chịu như chính những người nông dân miền Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Cây rất dễ sống, do khả năng phân nhánh khỏe nên thường mọc thành đám ở ruộng trồng ngô, khoai, sắn, ở bãi sông, nương rẫy và thậm chí ở ven đường đi.

     Sơ chế Rau đắng đất theo quy trình chuẩn

    Đắng….như rau đắng đất

    Từ lâu trong dân gian, rau đắng đất được sử dụng làm bài thuốc chữa viêm gan, làm mát gan và tiêu độc cho cơ thể rất hiệu quả. Theo y học cổ truyền, toàn cây rau đắng đất có vị đắng, tính mát, quy vào kinh can, thận. Cây có tác dụng lợi tiêu hóa, nhuận gan, ích mật, thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc. Theo y học hiện đại, Rau đắng đất có thành phần chính là các saponin, flavonoid, cây có chứa nhiều vitamin C, chất xơ rất có lợi cho người mắc bệnh tim mạch, huyết áp cao. Rau đắng đất được coi là cây thuốc quí trong thiên nhiên bởi sự lành tính và lợi ích tuyệt vời của nó. Có lẽ vì vậy, các bà vợ vùng Nam Bộ luôn chuẩn bị một đĩa rau đắng đất dùng kèm cho các đức ông chồng trong những bữa nhậu lai rai để giải rượu hiệu quả, giúp cơ thể tránh mệt mỏi. Thế nên mới có câu:

    “Rau đắng kèm cá lóc đồng

    Rượu đắng nhưng lại ngọt lòng tình em"

    Rau đắng đất - Thuốc đắng dã tật

    Boganic giúp hạ men gan với tỷ lệ lui bệnh 67% sau 10 ngày dùng. Mới đây, ngày 02/06/2014, Boganicđã được hội đồng chuyên gia Bộ Y tế bình chọn và trao giải thưởng “Ngôi sao thuốc Việt”.

    Rau đắng đất có sức sống mạnh mẽ trong tự nhiên và có trữ lượng thu hoạch lớn. Đây chính là dược liệu hoàn toàn sạch, không hề có hoá chất gây hại, thuốc bảo vệ thực vật, là nguồn thuốc quí trong dân gian. Kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây rau đắng đất của dân gian với tác dụng nhuận gan, ích mật, thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, Traphaco đã sử dụng rau đắng đất là một trong ba dược liệu chính sản xuất ra thuốc bổ gan Boganic. Rõ ràng, nguyên liệu có “sạch” thì gan mới được thải độc an toàn. Dược liệu mà không sạch thì vô hình trung, người dùng tự nạp thêm độc tố vào người, làm hại thêm lá gan của chính mình.

    Trăn trở với việc đưa cây thuốc quí, hoàn toàn sạch trong tự nhiên như rau đắng đất trở thành dược liệu ứng dụng trong sản xuất thuốc hiện đại với sản lượng lớn, công ty cổ phần Traphaco đã hướng dẫn bà con nông dân thực hiện qui trình thu hái cây Rau đắng đất theo tiêu chuẩn GACP – WHO (thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc). Sau nhiều năm lăn lộn nghiên cứu, Traphaco đã xác định được thời điểm thu hái tối ưu để Rau đắng đất có hàm lượng hoạt chất đạt cao nhất; đồng thời đảm bảo được công tác bảo tồn phát triển cây thuốc. Rau đắng đất sau thu hái được sơ chế, rửa sạch theo qui trình chuẩn. Sau khi đem phơi, sẽ được đóng gói, ép kiện đảm bảo tiêu chuẩn sạch

    Cùng với việc sử dụng “dược liệu sạch” Rau đắng đất, Traphaco đã phối hợp với Actiso, Bìm bìm biếc cũng là những dược liệu sạch để sản xuất thuốc bổ gan Boganic . Vì vậy, sau hơn 15 năm có mặt trên thị trường, Boganic được đánh giá là thuốc bổ gan hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Boganic đã được sử dụng tại hơn 500 cơ sở điều trị khám chữa bệnh trên cả nước. Các kết quả nghiên cứu trên lâm sàng tại Bệnh viện K Trung ương, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đã cho thấy thuốc bổ gan Boganic cải thiện rõ rệt các triệu chứng suy giảm chức năng gan, viêm gan: Ăn kém, khó tiêu, đầy bụng, da xạm vàng, nước tiểu vàng, đau hạ sườn phải. Boganic giúp hạ men gan với tỷ lệ lui bệnh 67% sau 10 ngày dùng. Mới đây, ngày 02/06/2014, Boganic đã được hội đồng chuyên gia Bộ Y tế bình chọn và trao giải thưởng “Ngôi sao thuốc Việt”.

    Thông tin tham khảo:

    - Báo cáo kết quả nghiên cứu và phát triển dược liệu Rau Đắng Đất theo GACP – WHO

    - Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2004, 2012);

    - Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện Dược liệu, 2003);

    - Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 2003)

    Độc giả có thể gửi câu hỏi liên quan đến Chăm sóc sức khỏe gan mật về hòm thư điện tử: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để được tư vấn, giải đáp hoặc liên hệ tới số điện thoại: (04) 3683.0751 để được các chuyên gia tư vấn miễn phí.

  • Những người nông dân trồng Đinh lăng tỉ phú ở Nam Định

      Cuối tháng 10/2013, Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã mở ra hướng đi mới cho cây dược liệu. Ở Nam Định, cây dược liệu, đặc biệt là cây đinh lăng đang được hướng đến quy hoạch vùng. Loại cây dược liệu quý này không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo cho người nông dân mà còn góp phần làm giàu cho họ. Chúng tôi đã có dịp tìm hiểu mô hình làm giàu từ cây dược liệu này của người nông dân trong chuyến công tác về Nam Định.

      Ông Phạm Quốc Hoàn, người nông dân được mệnh danh là tỉ phú với vườn đinh lăng hơn 4 mẫu cho biết, ông trồng cây đinh lăng từ năm 1994 và loại cây dược liệu này quả thật đã không phụ lòng người tâm huyết với nó. Nhà có 4 cậu con trai, hai đứa đã đi du học và thành danh tại Nhật Bản, cậu con thứ ba mới tốt nghiệp Đại học Xây dựng đang có nguyện vọng ở lại cùng với bố mẹ mở rộng cơ ngơi và diện tích trồng đinh lăng. Đứng giới thiệu với chúng tôi về vườn đinh lăng của mình, ông chia sẻ: “Đã có thương lái về trả tôi 1 tỷ cho cái vườn đinh lăng 3 tuổi này. Nhưng tôi không bán. Tôi cứ để đó, để càng lâu càng có giá, hơn nữa, tôi còn tận dụng lấy giống trồng gối vụ”. Ngoài trồng đinh lăng, ông còn đào ao thả cá, nuôi trang trại lợn để lấy phân hữu cơ bón cho cây và trồng xen dưa hấu, dưa lê, dưa bở với đinh lăng. Mỗi năm, doanh thu từ các sản phẩm ngoài đinh lăng cũng đưa về cho ông hàng trăm triệu đồng.

      Người nông dân này cho biết, cây đinh lăng không đơn thuần là cây xóa đói giảm nghèo mà còn là cây làm giàu cho người nông dân trong xã. Nhưng không phải ai cũng theo đuổi được, vì trồng đinh lăng cần nhất là cái tâm huyết và sự kiên trì của người trồng. Theo cây đinh lăng cũng không thể vội, ít nhất 3 năm sau ngày trồng mới được thu hoạch, đầu tư ban đầu cho cây cũng là một bài toán khó với những người nông dân không có vốn. Hơn nữa, nguồn cung giống cây đinh lăng hiện đang rất khan hiếm.

    "Tôi trồng Đinh lăng từ năm 1998, trước đây trồng theo kinh nghiệm dân gian, năng suất chất lượng chưa cao. Từ ngày được Traphaco và Tổ chức Biotrade tập huấn, trồng trọt theo tiêu chuẩn GACP, tính ra bây giờ thu nhập trên mỗi mẫu cũng vào khoảng 250 triệu."

     Rời Giao An, chúng tôi về vùng Nghĩa Hưng, mảnh đất được xem là “đại bản doanh” của cây dược liệu quý đinh lăng. Vùng đất Nghĩa Hưng được bồi đắp bởi phù sa của hai dòng Ninh Cơ và sông Đáy, đất đai màu mỡ, thật là nơi lý tưởng cho cây đinh lăng phát triển. Nghĩa Hưng là một trong hai huyện của tỉnh Nam Định được chọn thực hiện dự án “Phát triển các hoạt động thương mại sinh học trong lĩnh vực hợp chất tự nhiên tại Việt Nam” (BioTrade) ở nội dung: Phát triển dược liệu đinh lăng theo Hướng dẫn thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (GACP-WHO).

      Cũng giống như ông Hoàn, nhiều người nông dân ở đây đã trở thành tỷ phú nhờ cây đinh lăng. Với giá thu mua toàn bộ rễ, gốc, thân lá tại thị trường huyện hiện nay từ 20- 25.000 đồng/kg, nếu trồng 1 sào, 3 năm sau cho thu nhập 30- 45 triệu đồng/sào; chi phí giống 1,5- 2 triệu và phân bón từ 400- 600 ngàn đồng/sào; người nông dân trung bình lãi ròng 19- 21 triệu đồng/sào/1 năm (tương đương 520- 580 triệu đồng/ha/1 năm). Ông Vũ Văn An, một trong những hộ trồng Đinh lăng theo tiêu chuẩn GACP-WHO tại xã Nghĩa Lạc cũng được xem là điển hình của người nông dân thành công cùng với cây dược liệu. Ông chia sẻ với chúng tôi rất chân thành:” Tôi trồng Đinh lăng từ năm 1998, trước đây trồng theo kinh nghiệm dân gian, năng suất chất lượng chưa cao. Từ ngày được Traphaco và Tổ chức Biotrade tập huấn, trồng trọt theo tiêu chuẩn GACP, tính ra bây giờ thu nhập trên mỗi mẫu cũng vào khoảng 250 triệu. Đấy, căn nhà ba tầng mới xây là từ đinh lăng mà ra cả đấy”. Vừa nói chuyện, ông vừa cho chúng tôi xem sổ ghi chép quy trình trồng đinh lăng theo GACP-WHO: “từ ngày có Traphaco về, chúng tôi có được nhiều cái lợi. Cái lợi thứ nhất mà lớn nhất là chúng tôi không phải lo đầu vào đầu ra của cây Đinh lăng, cứ yên tâm mà chăm sóc cây phát triển theo quy trình được hướng dẫn vì công ty đã cam kết với người nông dân thu mua cao hơn 10% so với giá thị trường. Cái lợi nữa là kiến thức trồng trọt của chúng tôi được mở rộng, số lượng cây trồng mới bị chết ít đi, năng suất chất lượng nâng lên, thêm nữa đây là cây dược liệu nên phải trồng an toàn, theo các tiêu chuẩn có lợi cho môi trường”. Được sự hướng dẫn của các cán bộ nghiên cứu Traphaco, ông An còn trồng xen đinh lăng với cây hòe, cũng là một cây dược liệu khác. Cây hòe thuộc họ đậu, tăng dinh dưỡng cải tạo cho đất, lại là cây rễ cọc thuộc tầng dinh dưỡng khác với đinh lăng, do đó trồng xen kẽ với đinh lăng không chỉ phù hợp còn góp phần tăng thu nhập cho người nông dân. Như vườn nhà ông An, sau hai năm trồng hòe xen canh trên một mẫu vườn cũng cho thêm thu nhập khoảng 30 triệu.

      Ở địa phương này, sự thành công của những hộ nông dân trồng đinh lăng theo tiêu chuẩn GACP-WHO đã có tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội của người dân. Họ không chỉ trao đổi kinh nghiệm trồng trọt mà còn cùng nhau góp vốn giúp đỡ những hộ nông dân thiếu vốn khác, nhân rộng vùng trồng đinh lăng tại địa phương.

      Tuy nhiên, cái khó nhất của họ hiện nay cũng là vấn đề giống. Hiểu được tâm tư nguyện vọng của người nông dân về nguồn giống để nhân rộng diện tích, ngày 23/5/2014, tại xã Nghĩa Lạc, Nghĩa Hưng, Nam Định, Traphaco đã phối hợp cùng với Công ty TNHH Hiệp Hưng Xanh và Dự án Biotrade thành lập Trung tâm giống đinh lăng theo tiêu chuẩn GACP-WHO. Đại diện công ty Hiệp Hưng Xanh cho biết, với diện tích gieo trồng trên 2,3 ha, mỗi năm trung tâm sẽ cung cấp khoảng từ 600 nghìn đến 1 triệu cây giống đinh lăng, cung cấp đủ cho 40ha diện tích vùng trồng, đảm bảo 50% diện tích trồng tạo ra sản lượng tiêu thụ của Traphaco.

    Độc giả có thể gửi câu hỏi liên quan đến Chăm sóc sức khỏe gan mật về hòm thư điện tử: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để được tư vấn, giải đáp hoặc liên hệ tới số điện thoại: (04) 3683.0751 để được các chuyên gia tư vấn miễn phí.

  • Cây thuốc quý chè dây

     

     

     

    Trên vùng núi cao phía Bắc, đồng bào dân tộc thường dùng cây chè dây, một loại cây leo mọc hoang trong rừng làm thuốc chữa các bệnh đau bụng có triệu chứng là đau rát thượng vị, ợ hơi, ợ chua và mất ngủ.

    Từ cây chè dây đến thuốc Ampelop

    Ampelop là một trong 5 sản phẩm thuốc từ dược liệu của Traphaco được Hội đồng Bộ Y tế bình chọn là “Ngôi sao thuốc Việt” – giải thưởng cao quý của ngành dược dành cho thuốc sản xuất trong nước.

    Chè dây tiếng Nùng gọi là Thau rả, tiếng Tày gọi làKhau rả... Theo y học cổ truyền, chè dây có vị ngọt, đắng, tính mát, được dùng chữa các bệnh liên quan tới dạ dày và còn có tác dụng an thần, chữa mất ngủ. Cách đây gần hai chục năm, chè dây đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát hiện ra những tác dụng tích cực trong việc điều trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng.

    GS.TS Phạm Thanh Kỳ, Nguyên hiệu trưởng Đại học Dược Hà Nội cho biết “Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về cây chè dây từ năm 1990. Để xác định được tên khoa học của cây chè dây mà đồng bào vẫn dùng, chúng tôi đã phải lên tận nơi để lấy được mẫu cây có hoa, có quả, hạt và sau đó mới xác định được tên khoa học là Ampelopsis cantonesis Planch. Vitaceace”. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã xác định thành phần chính trong cây chè dây là flavonoid có khả năng giảm đau, liền vết loét và có tác dụng diệt xoắn khuẩn Helicobacter pylori là xoắn khuẩn gây ra bệnh viêm loét dạ dày, hành tá tràng. Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và xác định cây chè dây không có độc tính và độ an toàn cao.

    Theo các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân tại Khoa tiêu hóa Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện E, Bệnh viện 108, Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương, thuốc Ampelop chiết xuất từ chè dây có tác dụng cắt cơn đau do loét hành tá tràng, làm lành các ổ loét và diệt trừ khuẩn Helicobacter pylori với tỷ lệ cao. Một đặc tính hơn hẳn nhóm thuốc hóa dược điều trị dạ dày hành tá tràng là thành phần flavonoid trong chè dây còn có tác dụng giải độc gan theo cơ chế chống oxy hóa khử gốc tự do và an thần. Do vậy, người bệnh khi uống thuốc không gặp phải phản ứng phụ gây khó chịu hay mệt mỏi kéo dài như một số loại thuốc tân dược điều trị bệnh dạ dày khác.

    Sản xuất quy mô công nghiệp

    Với mong muốn đưa ra một liệu pháp hiệu quả sử dụng chè dây trong điều trị dạ dày – hành tá tràng, nhóm nghiên cứu gồm các giáo sư, bác sĩ, dược sĩ uy tín của bộ môn Dược liệu, Đại học Dược Hà Nội, Viện kiểm nghiệm Bộ Y tế do GS.TS Phạm Thanh Kỳ đứng đầu đã kết hợp với Công ty Cổ phần Traphaco hoàn thiện quy trình sản xuất viên nang Ampelop quy mô công nghiệp 100.000 viên/mẻ và 1 triệu viên trong một lô sản xuất.

    Thực tế sử dụng tại các cơ sở điều trị cho thấy, chi phí điều trị bằng thuốc Ampelop thấp hơn nhiều loại thuốc tân dược điều trị loét dạ dày – tá tràng đang bán trên thị trường Việt Nam hiện nay.

    Việc phát triển nguyên liệu chè dây sản xuất thuốc Ampelop cũng đã góp phần tăng thu nhập cho nhân dân vùng núi, nơi có cây chè dây mọc hoang, như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo cho người nông dân.

    Tuy nhiên, hiện loại cây chè dây chỉ là một loài thảo mộc mọc tự nhiên, hoang dã trên các triền núi, vẫn chưa được nghiên cứu trồng tập trung và bảo tồn. Vì món lợi nhất thời, người dân đua nhau lên rừng chặt cây chè dây về bán đã vô tình tận diệt loài thảo mộc quý này. Để đảm bảo khai thác lâu dài và bền vững nguồn dược liệu chè dây, dự án “Phát triển các hoạt động Thương mại Sinh học đối với các hợp chất tự nhiên - BioTrade” đã phối hợp cùng Traphaco nghiên cứu trồng và thu hái cây chè dây ở vùng núi cao theo tiêu chuẩn GACP-WHO (trồng trọt và thu hái sạch cây thuốc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới). Dự án đã tổ chức hướng dẫn nhân dân vùng cao, nơi có cây chè dây mọc hoang, bảo tồn nguồn nguyên liệu sạch này bằng cách thu hái lá, không chặt cành để bảo vệ và giúp cây chè dây tái sinh. Việc trồng và thu hái chè dây theo tiêu chuẩn GACP-WHO đã góp phần đảm bảo nguồn dược liệu đầu vào ổn định, chất lượng tốt để sản xuất ra thuốc điều trị dạ dày Ampelop hiệu quả, an toàn.

    Độc giả có thể gửi câu hỏi liên quan đến Chăm sóc sức khỏe gan mật về hòm thư điện tử: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để được tư vấn, giải đáp hoặc liên hệ tới số điện thoại: (04) 3683.0751 để được các chuyên gia tư vấn miễn phí.

     

     

     

  • Bìm bìm - loài cây kỳ lạ

     

     

     

    Bìm bìm là loài cây có hoa đẹp, nhiều màu sắc lại mọc nhanh và không cần chăm sóc cầu kỳ, nên ở nhiều nước cây thường được trồng làm cảnh, cho leo lên những tấm phên dựng đứng hoặc trên bờ rào, nhìn vào rất đẹp và vui mắt.

    Ở Nhật Bản, bìm bìm là cây cảnh rất được ưa chuộng, người ta đã tiến hành lai giống, tạo ra gần trăm loại bìm bìm khác nhau.
    Nhưng ở nước ta, mỗi khi nhắc tới loài cây này, nhiều người thường liên tưởng đến câu tục ngữ "giậu đổ bìm leo". Trong mắt nhiều người, đó là loài cây xấu, chuyên lợi dụng lúc người gặp nạn thừa cơ lấn át. Hoa bìm bìm dù đẹp, nhưng bị coi là thứ "hoa hèn", nên ít người trồng nó làm cảnh. Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện y học, cũng như về giá trị thực dụng, thì định kiến nói trên là quá bất công.

    Loài cây kỳ lạ

    Bìm bìm là loài cây có rất nhiều đặc tính kỳ lạ. Cây mọc leo lên cao nhờ có thân cuốn, nhưng khác với những loài dây leo khác, dây bìm bìm chỉ quay theo hướng ngược kim đồng hồ, theo chiều Đông - Bắc - Tây - Nam. Hoa bìm bìm hình chuông, mọc thành xim ở kẽ lá, với 1 - 3 bông, có thể đổi màu. Từ sáng đến chiều, màu hoa chuyển từ lam nhạt sang hồng hoặc tím. Bí mật này, mãi về sau khoa học mới lý giải được. Sáng sớm, hoa bắt đầu phân giải chất đường và giải phóng khí CO2 ra ngoài, độ kiềm trong hoa tăng lên do nồng độ acid giảm xuống, nên cánh hoa có màu lam nhạt. Khi mặt trời lên cao, hoa bắt đầu hấp thụ thêm khí CO2 khiến cho độ acid trong hoa tăng lên, nên cánh hoa lúc này có màu hồng hoặc tím. Ban ngày, trời nắng, cánh hoa nở xòe ra, nhìn tựa như cái ô che nắng. Chiều đến hoặc lúc trời âm u, cánh hoa cụp lại, như chiếc ô đã gấp, lúc này hoa xoắn lại, theo chiều quay của kim đồng hồ, ngược với chiều quay của thân cây.
    Bìm bìm còn có một tính năng rất quý nữa, đó là có thể hấp thụ một số chất có hại: sulfur dioxid, carbon dioxid, fluorine hydrid, chlorin và hydrogen sulfid... Do đó, trồng bìm bìm làm cảnh, còn có thêm tác dụng làm sạch môi trường.

    Truyền thuyết về vị thuốc “dắt trâu”

    Hạt bìm bìm trong Đông y có tên là "khiên ngưu tử", có nghĩa là "thằng bé dắt trâu". Vì sao vị thuốc lại có tên như vậy?
    Xuất xứ của tên "khiên ngưu tử" được nói tới trong sách "Danh y biệt lục" của Đào Hoằng Cảnh (456 - 536), nhưng rất vắn tắt: "Vị thuốc này mọc ở ngoài đồng, có người dắt trâu đến tạ ơn thầy thuốc, nên có tên như vậy". Chuyện dắt trâu diễn ra cụ thể như thế nào, thì không thấy y thư mô tả. Tương truyền: Có bác nông dân, con mắc bệnh trướng bụng, đưa đi khám, được thầy thuốc cho uống một thứ thuốc tán. Mang về nhà uống, bụng đứa con bắt đầu nhỏ dần, chẳng bao lâu sức khỏe phục hồi như trước. Cả nhà vô cùng cảm kích, bàn đi bàn lại, cuối cùng quyết định mang con trâu vừa tròn 1 tuổi, đến biếu thầy thuốc để tỏ lòng biết ơn. Thế là, bác nông dân bảo con dắt trâu, cùng đến nhà thầy thuốc tạ ơn. Khi hỏi con mình đã được cho uống thứ thuốc gì mà khỏi bệnh, thầy nói: "Đó là thứ mọc hoang ở ngoài đồng, bản thân ta cũng chưa biết vị thuốc có tên là gì! Thằng bé đã dắt trâu tới, thì hãy gọi là "khiên ngưu tử" vậy!" Còn con trâu thầy thuốc từ chối nhất quyết không nhận, bác nông dân đành bảo con dắt trâu trở về. Nhưng từ đó, vị thuốc mới có tên là "khiên ngưu tử". "Tử" nghĩa là đứa con trai hoặc là hạt giống. Vì vậy "khiên ngưu tử" có thể hiểu là: "Thằng bé dắt trâu", mà cũng có thể hiểu là "hạt dắt trâu".

    Vị thuốc "khiên ngưu tử" là hạt đã phơi hoặc sấy khô của cây bìm bìm. Hạt bìm bìm có 2 loại: màu nâu đen và màu vàng nhạt. Loại thứ nhất gọi là "hắc khiên ngưu tử" hoặc "hắc sửu", loại thứ hai gọi là "bạch khiên ngưu tử" hoặc "bạch sửu". Màu sắc của hạt không liên quan tới nguồn gốc thực vật của cây, nhưng phụ thuộc vào màu sắc của hoa: hoa màu thẫm (tím hoặc đỏ tía) cho hạt nâu đen; còn hoa màu nhạt (phớt hồng hoặc trắng) cho hạt màu vàng nhạt. Y gia thời cho rằng, "hắc khiên ngưu tử" có tác dụng nhanh và mạnh hơn, còn "bạch khiên ngưu tử" có tác dụng tương đối chậm và bình hòa hơn. Trên lâm sàng, thường dùng cả hai loại với cùng tác dụng.

    Tác dụng phi thường

    Đối với người nông dân thời xưa, con trâu là đầu cơ nghiệp", là thứ quý giá nhất có ở trong nhà; Đem cả gia tài đi tạ ơn, chứng tỏ hạt bìm bìm có thể chữa được cả những bệnh nan y. Sự tích dắt trâu tạ ơn, tuy đã được Đào Hoằng Cảnh ghi lại từ xưa, nhưng phải mãi về sau, với tài dùng thuốc của Lý Thời Trân (1518 - 1593), người đời mới biết rõ những tác dụng phi thường của thứ hạt tưởng như rất tầm thường này. Lý Thời Trân không chỉ là một nhà dược học uyên bác, mà còn là thầy thuốc rất giỏi. Sách "Bản thảo cương mục" còn ghi lại hai trường hợp mắc bệnh nan y, đã chữa trị nhiều nơi, nhiều thầy không khỏi, cuối cùng phải mời đến Lý Thời Trân và ông đã sử dụng hạt bìm bìm chữa cho khỏi bệnh. Ngoài ra, Lý Thời Trân còn phát hiện ra tác dụng mỹ dung, làm đẹp của hạt bìm bìm.
    Từ đó, hạt bìm bìm - “khiên ngưu tử” mới thật sự trở nên nổi tiếng. Và cũng từ đó, trong tất cả các sách Đông dược thông dụng, “khiên ngưu tử” là vị thuốc không thể vắng mặt. Trong các sách Đông dược hiện đại, “khiên ngưu tử” được xếp trong nhóm thuốc "tuấn tả trục thủy", cùng với những vị thuốc như cam toại, đại kích, nguyên hoa, thương lục, ba đậu, thiên kim tử...

    Theo Đông y, khiên ngưu có vị cay, tính nóng, hơi có độc, vào 3 kinh: Thủ thái âm phế, túc thiếu âm thận và thủ dương minh đại tràng. Có tác dụng tả thấp nhiệt ở khí phận, trục đờm, tiêu ẩm lợi nhị tiện (đại tiểu tiện) là thuốc chữa tiện bí, cước khí, chủ trị hạ khí, lợi tiểu tiện, chữa cước thũng (phù), sát khuẩn. Trên thực tế, khiên ngưu thường dùng làm thuốc thông đại và tiểu tiện, thông mật, còn sử dụng cả để trị giun.

    Liều dùng mỗi ngày 4 - 8g.

    Kiêng kỵ: người cơ thể hư nhược, phụ nữ đang có thai không dùng được. Theo tài liệu cổ: không được dùng khiên ngưu tử cùng với ba đậu.

    Một số bài thuốc thường dùng khiên ngưu tử:

    - Chữa các chứng thũng trướng: Dùng độc vị khiên ngưu tử, tán mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, dùng nước chiêu thuốc. Hoặc dùng khiên ngưu tử 10g, nước 300ml, sắc còn 150ml chia 2 lần uống trong ngày. Có tác dụng chữa phù thũng, nằm ngồi không được, uống thuốc nếu tiểu tiện nhiều được thì khỏi.

    - Trướng bụng do xơ gan hoặc viêm thận mạn tính: Khiên ngưu tử 80g, hồi hương 40g; tất cả nghiền mịn, trộn đều. Mỗi ngày uống 1 lần, mỗi lần 8g, uống khi đói bụng, chiêu thuốc bằng nước sôi; uống liên tục trong 2 - 3 ngày.

    - Chữa phù do viêm thận: Khiên ngưu tử 100g - nghiền mịn, hồng táo (táo tầu) 80g - hấp chín, bỏ hột, giã nát, gừng tươi 500g - giã nát vắt lấy nước, bỏ bã; tất cả đem trộn đều thành một thứ bột nhão, cho vào nồi hấp nửa giờ, trộn đều, lại hấp thêm nửa giờ nữa là được. Lượng thuốc trên chia đều thành 8 phần, ngày uống 3 lần - sáng, trưa, chiều, mỗi lần uống 1 phần, sau 2,5 ngày thì hết; kiêng muối trong 3 tháng.

    - Trị giun đũa, giun móc: Khiên ngưu tử 8g, tân lang (vỏ quả cau) 8g, đại hoàng 4g; tất cả đem nghiền mịn, trộn đều, ngày uống 2 lần, vào sáng sớm và buổi chiều khi đói bụng, mỗi lần uống 3 - 4g, dùng nước sôi chiêu thuốc, trẻ nhỏ tùy theo tuổi cần giảm bớt liều.

    Giữ gìn vẻ đẹp, chữa nám da

    Cho đến nay, dân gian thường sử dụng hạt bìm bìm để làm mờ các nốt tàn nhang và vết nám, theo cách thức ghi trong sách "Bản thảo cương mục" của Lý Thời Trân như sau: Dùng "hắc khiên ngưu tử" (hạt bìm bìm có màu nâu đen) nghiền thành bột mịn, trộn với lòng trắng trứng gà, tối trước khi đi ngủ xoa đều lên da mặt, sáng dậy rửa sạch; bôi liên tục, tới khi các vết nám mờ hết thì ngừng. Làm như vậy còn có tác dụng phòng và chữa trị mụn trứng cá.

    Ngoài ra, hạt bìm bìm còn được sử dụng để giữ gìn vẻ dẹp theo một số cách khác như sau:

    - Làm mịn da mặt: Hắc khiên ngưu tử (sao), bạch chỉ, linh lăng hương, cam tùng, quát lâu nhân - mỗi thứ 100g, trà tử 200g, tạo giác mạt (trái bồ kết tán mịn) 200g. Tất cả đem nghiền thành bột mịn, trộn đều, ngày xoa lên da mặt 3 - 4 lần.

    - Chữa mụn trứng cá: Dùng hắc khiên ngưu tử tẩm rượu 3 ngày. Sau đó vớt hạt ra, phơi khô, nghiền thành bột mịn. Trước hết giã gừng tươi vắt lấy nước cốt bôi lên chỗ da bị bệnh, sau đó rắc bột thuốc lên; mỗi ngày 2 - 3 lần.

    - Làm mờ các vết đen trên da mặt: Hắc khiên ngưu tử, bạch cương tàm, tế tân, các vị thuốc dùng liều lượng bằng nhau, nghiền thành bột mịn. Hòa với nước ấm để rửa mặt, ngày 3 - 4 lần.

    Độc giả có thể gửi câu hỏi liên quan đến Chăm sóc sức khỏe gan mật về hòm thư điện tử: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để được tư vấn, giải đáp hoặc liên hệ tới số điện thoại: (04) 3683.0751 để được các chuyên gia tư vấn miễn phí.

     

     

     

  • Cây “vàng” Actiso ở Sapa

    Nhiều hộ dân ở Sa Pa đã thoát nghèo, làm giàu nhờ cây Actiso – cây thảo dược mang lại hiệu quả kinh tế cao. Actiso được xem là cây ‘vàng’ khi nó được đảm bảo đầu ra bền vững bởi hãng dược phẩm hàng đầu Việt Nam.

    Bỏ lúa trồng Actiso

    Có mặt tại Sa Pa vài năm gần đây nhưng Actiso đang được nhiều hộ dân trồng thay thế cho cây lúa và các loại rau màu. Bởi vì, đây là loại thảo dược mang lại giá trị kinh tế cao, ít phải đầu tư chăm bón và có đầu ra ổn định, lại rất phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của Sa Pa.

    Ông Đinh Văn Mỵ, trú tại thị trấn Sa Pa, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu cây thảo dược Sa Pa là một trong những người đầu tiên trồng Actiso tại Sa Pa, hiện ông Mỵ đang có diện tích Actiso lớn nhất với hơn 3ha.

    Ban đầu, ông Mỵ trồng Actiso thí điểm trên các khoảnh ruộng của gia đình. Khi thấy loại cây này mang lại hiệu quả cao, ông đã thuê thêm đất, mở rộng diện tích trồng.

    Ông My cho biết, “Tôi cùng một người bạn quyết định thuê 3ha đất ruộng của bà con thuộc xã Tả Phìn để trồng Actiso. Tiền thuê đất, chúng tôi trả thóc cho người có ruộng bằng đúng sản lượng mà họ thu được mỗi mùa vụ. Họ còn có thêm thu nhập từ việc trồng, chăm bón và thu hoạch Actiso cho chúng tôi”.

    “Mỗi ha một năm trung bình cho thu nhập từ 80 – 90 triệu. Đây là nguồn thu rất lớn nếu so sánh với việc trồng lúa hay trồng rau màu” – ông Mỵ nói.

    Năm 2012, với diện tích gần hơn 1ha Actiso, gia đình ông Mỵ thu được hơn 100 triệu đồng. “Mỗi năm, chúng tôi thu hoạch được 6 – 7 lần tỉa lá, hoa, quả Actiso. Phần thân, rễ… của Actiso cũng bán được giá cao. Như thế, cây Actiso không bỏ đi đâu tí nào cả…”.

    Tại xã Sa Pả (huyện Sa Pa), rất nhiều hộ dân người H’Mông cũng đang chuyển đổi từ trồng lúa, rau màu sang trồng Actiso. Ngoài Tả Phìn, Actiso được trồng với diện tích lớn ở các xã Tả Van, Sa Pả, Lao Chải, Hầu Thào và thị trấn Sa Pa.

    Tổng diện tích trồng Actiso ở Sa Pa hiện là 50ha và sẽ tiếp tục được mở rộng lên trong năm 2014.

    Chủ tịch xã Sa Pả, ông Giàng A Sàng cho biết: Diện tích đất nông nghiệp của Tả Phìn có 300ha, chủ yếu là trồng lúa. Với năng suất ở mức trung bình, một năm, một ha trồng lúa cho thu nhập 25 triệu đồng/vụ. Từ khi chuyển sang trồng cây Actiso, đời sống đồng bào đã được cải thiện rất nhiều. Cây Actiso không mất nhiều thời gian, công sức chăm bón... Khi cây đã trưởng thành và cho thu hoạch không phải chăm bón vất vả như lúa.

    “Bà con phấn khởi lắm, một ha trồng Actiso mang hiệu quả gấp 3 – 4 lần so với trồng lúa, lại được hỗ trợ phân bón, được bao tiêu đầu ra của sản phẩm. Xã Sa Pả dự kiến sang năm 2014 sẽ mở rộng diện tích trồng cây Actiso ở Sa Pả. Coi đó là cây xóa nghèo”, ông Sành cho biết.

    Xu hướng kinh tế xanh

    Đơn vị đưa cây Actiso về Sapa, hỗ trợ người dân mở rộng, phát triển cây dược liệu này là Cổ phần Traphaco. Để người dân yên tâm sản xuất, DN đang đứng ra thu mua, bao tiêu toàn bộ sản phẩm từ cây Actiso sau thu hoạch. Ngoài ra, DN còn hỗ trợ cho người trồng kỹ thuật, phân bón, giống cây trồng cho người sản xuất.

    Ông Nguyễn Huy Văn, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Traphaco, cho biết: Actiso là 1 trong 4 loại dược liệu quý mà công ty đang tập trung phát triển theo tiêu chuẩn GACP – WHO (thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc).

    Từ nay đến năm 2020, Traphaco sẽ hoàn thành kế hoạch phát triển thêm 6 loại dược liệu theo tiêu chuẩn GACP-WHO nữa và theo đó, sẽ cần hàng nghìn ha dược liệu, trong đó riêng Actiso tại Sapa cũng cần ít nhất 120ha. Tuy nhiên, việc mở rộng ồ ạt theo như mong muốn của bà con nông dân gần như là không thể.

    “Ngoài lý do hoạt động trồng và thu hái đều phải theo tiêu chuẩn quốc tế thì trong quan hệ hợp tác 4 nhà (nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp – nhà nông), những ràng buộc và yêu cầu thực hiện cũng rất khắt khe. Đáng chú ý là khi hợp đồng với bà con, DN luôn phải cam kết và đảm bảo đầu ra, mà điều này còn phụ thuộc vào thị trường chứ không chỉ theo kế hoạch vạch sẵn”, ông Văn cho biết.

    Ngoài ra, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bà con nông dân, Dn luôn phải thu mua với mức giá cao hơn rất nhiều so với thị trường.

    “Giá hoa Actiso khô ở Đà Lạt chỉ vào khoảng 80.000 đồng/kg thì hiện công ty đang thu mua của bà con nông dân Sa Pa với giá 130.000 – 150.000 đồng/kg. Những ràng buộc theo đó cũng đảm bảo rằng mỗi kg Actiso được bà con thu hoạch đạt tiêu chuẩn chắc chắn sẽ được bán và chỉ có thể bán cho Traphaco. Thực tế, dược liệu không giống như các loại rau quả, hoa màu khác là hễ đâu có giá hơn là có thể “phá” hợp đồng để bán ra bên ngoài”, ông Văn chia sẻ.

    Theo ông Văn, với vị thế là doanh nghiệp chiếm thị phần số 1 về dược phẩm từ dược liệu tại Việt Nam, kế hoạch phát triển các vùng trồng dược liệu là hướng đi lâu dài, vững chắc theo định hướng kinh tế xanh, trong đó, Actiso là một trong những thảo dược quan trọng trong chiến lược chung của công ty.

    Actisô là dược liệu được dùng trong sản xuấtthuốc bổ gan Boganic nổi tiếng của Traphaco. Định hướng phát triển các vùng trồng Actiso của Traphaco hoàn toàn phù hợp với nhu cầu sử dụng thuốc bổ gan từ dược liệu trong nhân dân. Điều đó đảm bảo sự hợp tác lâu dài giữa Traphaco và người dân trồng cây thuốc, mở ra triển vọng ngày càng cao về việc phát triển vùng trồng dược liệu Actiso.

    Thái Bình